NHỮNG BÀI HỌC VỀ ÂM THANH RÚT RA TỪ TÁC PHẨM CỦA ROBERT ALTMAN
14/06/2017

Robert Altman là một tia sáng dẫn đường trong phong trào điện ảnh Hoa Kỳ những năm 1970, người đã khai thác công nghệ âm thanh theo một cách cực kỳ sáng tạo. Trong bài viết này, Kevin Hilton sẽ giúp bạn phân tích phong cách âm thanh trong những bộ phim của Robert Altman, tập trung chủ yếu vào M*A*S*H và một bộ phim ít được biết đến nhưng vẫn rất quan trọng trong lịch sử điện ảnh là That Cold Day in the Park.

Bài viết do Kevin Hilton thực hiện, Pixel Factory sưu tầm và biên dịch.

Phong cách của một đạo diễn có thể được phát triển qua thời gian nhưng kỹ thuật chính và mối quan tâm thường trực lúc ban đầu của họ vẫn luôn như vậy. Robert Altman được biết đến với việc thường dùng dàn diễn viên lớn, những đoạn thoại mà một nửa trong số đó là do diễn viên ứng khẩu, các cú zoom và các câu thoại chồng. Bạn có thể tìm thấy những điều này trong tác phẩm đột phá của ông là M*A*S*H (1970). Ngoài ra, tác phẩm trước đó của ông là That Cold Day in the Park gần đây đã được phát hành trên đĩa DVD và Blu-ray, cũng có sự kết hợp của các yếu tố này, đặc biết là cách ông sử dụng âm thanh và sự quyến rũ của những thứ nghe được và không nghe được.

Altman đã nỗ lực để tạo ra đột phá trong dòng phim chính kịch trong suốt những năm 1950, nhưng ông đã dành toàn bộ thập kỷ đó và thập kỷ tiếp theo để đạo diễn những bộ phim truyền hình. Ông đã tự đấu tranh với chính mình để tạo ra bước đột phá trong phong cách của mình với các show như Bonanza; tương tự như việc các nhà sản xuất của bộ phim điện ảnh đầu tiên của ông trong 10 năm, Countdown (1968) phản đối việc ông sử dụng ống kính zoom và những câu thoại chồng lên nhau.

Kỹ thuật mới hơn, vay mượn từ các bộ phim của Howard Hawks, đã trở thành một thương hiệu của Alman. Nó xuất hiện một cách đầy đủ lần đầu tiên trong M*A*S*H, nhưng đã được đưa vào That Cold Day in the Park (1969), một sản phẩm đã giúp cho người đạo diễn 44 tuổi lúc đó trở nên tự do hơn trong sáng tạo. Có những thử nghiệm chính xác trong phim này, từ những cuộc trò chuyên gần như liên tục và siêu thực, những bản nhạc jazz của Johnny Mandel đến gần như lặng thinh, được đặt dấu chấm hết bằng âm thanh nền.

Những tiếng ồn cực lớn và sự tĩnh lặng bao trùm lên sự hỗn loạn bên trong của Frances Austen (Sandy Dennis), một người đàn bà nghiêm nghị, lạnh lùng và giàu có 30 tuổi sống cô độc trong một căn hộ, nơi cô từng sống với người mẹ quá cố của mình. Trong một ngày lạnh lẽo, Frances đang tổ chức bữa trưa cho những người bạn già mà cô “thừa kế” từ cha mẹ mình. Khi họ đang nói chuyện tầm phào với nhau một cách uể oải phía sau, cô đứng bên cửa sổ và nhìn người đàn ông trẻ ngồi dưới mưa trên một băng ghế trong công viên ở trước nhà.

Sau đó Frances mời người đàn ông trẻ vào căn hộ của mình để lau khô người và sưởi ấm. Không ai biết tên nhân vật này, anh được để tên là The Boy trong phần credits. Nhân vật này do Michael Burns thủ vai. Âm nhạc của Mandel nhường chỗ cho những âm thanh bình dị thường ngày – tiếng cửa đóng – mở, tiếng quần áo sột soạt – những âm thanh có tác dụng phá vỡ sự im lặng. Sự đáng sợ tăng lên khi cô ta cứ tiếp tục nói và nói, như thể cố ấy tìm cách lấp đầy khoảng trống do The Boy lặng thing tạo ra, dù cậu ta không câm.

Ngồi trong phòng khách thì ấm áp nhưng một khi Frances đi ngủ, The Boy trèo ra cửa sổ và đi về phía nhà của bố mẹ cậu ta. Âm thanh của con đường và của các máy đánh bạc trong các khu vui chơi giải trí mà anh ta đi qua đưa chúng ta trở lại trạng thái bình thường sau sự im lặng và cô lập trong tháp ngà của Frances. Khi The Boy bước vào căn nhà của anh ta, máy quay đứng ở ngoài, tracking anh ta với một crane shot. Âm thanh phản chiếu lại điều này, tiếng ồn của một đứa bé đang khóc trên radio chuyển thành tiếng người nói phía trên khi anh đi qua căn nhà và bước ra ngoài một lần nữa.

Mô-típ của việc quan sát cuộc đời từ một khoảng cách xa xuất hiện trở lại khi Frances, đánh giá lại của đời của mình và các ưu tiên của mình, ghé thăm phòng khám phụ khoa. Việc sử dụng âm thanh trở nên rõ ràng hơn trong suốt sequence này. Trong khi ngồi trong phòng chờ, cô ta lắng nghe những người phụ nữ khác, thảo luận với nhau về việc ngừa thai và sex, một cách không mấy thoải mái, được quay trong một shot dài. Đoạn phim này được quay một cách tự nhiên, gần như là phong cách của phim tài liệu. Các câu thoại xuất hiện một cách ngẫu hứng nhưng phần lớn trong số chúng biến mất khi góc máy thay đổi.

Altman nhận xét trong cuốn sách của Judith M Kass có tên Robert Altman: American Innovator (1978): “Âm thanh được tạo ra là để được nghe thấy, nhưng ngôn từ không phải lúc nào cũng cần phải được nghe thấy.” Ông cũng nhấn mạnh thêm về tầm quan trọng của những thứ không được nói ra, chứ không phải là những thứ được nói ra. Điều này được thể hiện hiển nhiên trong cuộc trò chuyện của Frances với bác sĩ phụ khoa, được quay từ phía bên ngoài cửa sổ của phòng khám, tạo ra cho toàn bộ cảnh này một cảm giác gián tiếp, khó chịu.

Trong M*A*S*H, Altman mở rộng việc sử dụng các câu thoại chồng và sử dụng hiệu ứng âm thanh do từ ngữ tạo ra, nhiều hơn là ý nghĩa mà nó mang lại, làm phương tiện để truyền tải thông điệp của nhân vật, hoặc của câu chuyện. Tại bệnh viện dã chiến số 4077 trong chiến tranh Triều tiên, Dr ‘Hawkeye’ Pierce (Donald Sutherland) tìm cách gây sự với bác sĩ phẫu thuật Duke Forrest (Tom Skerritt).

Căn cứ chỉ huy của Đại tá Henry Blake (Roger Bowen) và nhân viên của ông ta trông chừng những người mới đến với một sự khó chịu. Khi Blake và nhân viên của ông ta đến để tự giới thiệu bản thân, tên của họ và chào hỏi xã giao. Điều này ban đầu tạo ra một sự bực bội, nhưng nó nhấn mạnh rằng tính cá nhân đã bị chế ngự trong sương mù của chiến tranh. Cách tiếp cận này đã được sử dụng rất nhiều lần trong điện ảnh, đặc biệt là khi Hawkeye và tòng phạm của ông ta và Trapper John McIntyre (Elliott Gould) dọa nạt Blake khi nói chuyện với anh ta.

Bởi vì Alman là người nổi tiếng với việc không thích lặp lại – thu âm lại các câu thoại trong hậu kỳ, còn được biết đến là ADR (tự động thay thoại) – các sequence như vậy đặt nhiều áp lực lên các diễn viên cũng như thành viên đoàn làm phim. Các diễn xuất và thu âm thoại này đã cùng được dùng trong M*A*S*H nhưng đã thất bại trong McCabe and Mrs Miller (1971), vốn nổi tiếng với những câu thoại không rõ ràng. Trong cuộc phô diễn kiêm khám phá của Peter Biskind của Điện ảnh Mỹ độc lập những năm 1970, Easy Riders Raging Bulls, Warren Beatty và người đóng vai McCabe, đã phàn nàn về âm thanh: “Âm thanh trong hai tác phẩm đầu tiên của reel đã được kỳ vọng là sẽ rõ ràng nhưng lại không được như vậy.”

Biskind viết rằng lý do của việc thu âm một cách lộn xộn như vậy vẫn còn là một bí ẩn. Địa điểm quay ở Vancouver bị bủa vây bởi gió, tuyết và mưa. mặc dù vậy, người thu âm vẫn có “thời gian để ghi được những bản ghi rõ ràng”, Alman nghĩ rằng mọi thứ đã đúng và lờ đi những mối lo ngại của Beatty. Khi người dựng phim Lou Lombardo nói với đạo diễn rằng âm thanh rất tệ, ông ấy cũng không thèm để tâm tới. Lombardo nói với Biskind: “Ông ấy chẳng bao giờ thay đổi nó. Ông đã hoàn thành những gì ông muốn làm với âm thanh trong M*A*S*H – nơi những câu thoại có thể nghe được nhưng bị chồng lên nhau. Nhưng trong McCabe, âm thanh thu được cực kỳ tệ. Nó giống như việc cố gắng để biến những hình ảnh out nét trở thành những hình ảnh rõ nét vậy.”

Altman phản đối bằng cách nói rằng ông đã kiểm tra âm thanh rồi và từ chối công bố kết quả cuối cùng mà ông có được. Các bộ phim tiếp theo cũng có những công thoại chồng nhưng đã không còn gặp phải vấn đề như trong McCabe and Mrs Miller. Các công nghệ mới đã giúp ích trong những trường hợp này và còn cho phép Alman làm những tác phẩm sau này với chất lượng âm thanh vô cùng tuyệt vời. Trong phim Short Cuts năm 1993, tác phẩm được Alman chuyển thể từ chuyện của Raymond Carver, sử dụng âm thanh vòm và khiến cho nó thực sự rất thú vị. Sequence mở đầu là cảnh các máy bay trực thăng bay phía trên, báo hiệu rằng nó không còn gặp phải những rắc rối về âm thanh trước đây. Ở đỉnh điểm của bộ phim, một con chim hót vẫy gọi và tiếng ầm báo hiệu những trận động đất xảy ra ở LA vào năm 1992.

Trong bộ phim cuối cùng của ông, Gosford Park (2001), không thuộc kiểu kịch bản ngôi nhà bí ẩn của Anh nhưng vẫn có một dàn diễn viên lớn với những câu thoại chồng chéo lên nhau trong rất nhiều cảnh. Alman đảm bảo sự rõ ràng của những câu thoại cần thiết bằng cách sử dụng các máy wireless microphone mới nhất, mặt dù Shepperton studio vẫn có credit cho phần ADR. Người ta có thể cho rằng, với danh tiếng của đạo diễn với một người từng thất bại và cũng là một người sáng tạo, bất kỳ một sự lặp lại nào cũng đều được thực hiện một cách có ý đồ riêng.

Robert Bernard Altman (20 tháng 2 năm 1925 – 20 tháng 11 năm 2006) là một đạo diễn phim, nhà biên kịch, nhà sản xuất phim người Mỹ. Ông được đề cử 5 lần cho giải Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất và được coi là nhân vật tiêu biểu cho thời đại New Hollywood. Altman được coi là phi chính thống khi các phim của ông làm đều theo chủ nghĩa tự nhiên nhưng có tầm nhìn phong cách không giống hầu hết các phim của Hollywood. Ông luôn được xếp hạng là một trong những nhà làm phim vĩ đại nhất và có ảnh hưởng nhất trong lịch sử. – Wikipedia

Nguồn: Pixelfactory

BÌNH LUẬN